Vnpplus
  • Increase font size
  • Default font size
  • Decrease font size

Hy vọng cho bệnh nhân AIDS

Email In PDF.

Kỳ 1: Tìm nguồn gốc căn bệnh quái ác

(PL&XH) - Nguồn gốc của AIDS và HIV đã làm đau đầu các nhà khoa học từ khi họ phát hiện được những ca bệnh đầu tiên vào đầu những năm 80 của thế kỷ trước.

 

Hơn 30 năm qua, đây là chủ đề của rất nhiều cuộc tranh luận nảy lửa, từ chuyện một tiếp viên hàng không khá nổi tiếng có quan hệ tình dục bừa bãi và làm lây lan một căn bệnh "quái lạ", đến các loài vật gây bệnh, các thí nghiệm “khoa học” của chủ nghĩa phát xít... Vậy thì đâu là sự thật?

 

Ca bệnh đầu tiên

Các ca bệnh AIDS đầu tiên được thừa nhận xảy ra tại Mỹ vào đầu những năm 80 thế kỷ trước. Một số người có quan hệ tình dục đồng giới nam tại New York và San Francisco đột nhiên mắc những bệnh nhiễm trùng rất hiếm gặp từ trước đến lúc đó, trong đó 5 người bị viêm phổi do Pneumocystic carinii và 26 người bị ung thư  Kaposi mà các thầy thuốc hàng đầu đành phải bó tay.

Tất cả các bệnh nhân đều có một điểm chung là bị suy giảm hệ miễn dịch một cách kỳ lạ, hệ thống miễn dịch của họ thậm chí còn không đủ sức chống đỡ các nhiễm trùng đơn giản. Chẩn đoán ban đầu là GRID, đặt theo chữ cái đầu của cụm từ "Gay Related Immunodeficiency Disease" (bệnh suy giảm miễn dịch liên quan với người tình dục đồng giới nam).

Nhưng sau đó căn bệnh lạ được đổi tên thành AIDS. Chẳng bao lâu sau đó, HIV (Human Immunodeficiency Virus) được chính thức phát hiện và công bố. Dịch AIDS chính thức được Michael Gottlieb và cộng sự công  bố trên tờ Morbidity and Mortality Weekly Report vào ngày 5 - 6 -1981, đó là các trường hợp tình dục đồng giới nam bị viêm phổi do nhiễm Pneumocystis carinii.

Vào cuối năm 1983, Giáo sư Luc Montagnier và cộng sự tại viện Pasteur Paris phát hiện ra virus gây bệnh và đặt  tên là "LAV- lymphadenopathy associated virus" (virus có liên quan đến bệnh hạch lymphô). Gần nửa năm sau, Gs Robert Gallo và nhóm nghiên cứu tại NIH (National Institute of Health) cũng phát hiện một virus như thế và đặt tên là "HTLV III - Human T-cell lymphotropic virus" (virus ưa tế bào lymphô T của người) và tự cho mình là người đã phát hiện ra virus gây suy giảm miễn dịch ở người (HIV).

Chính việc này đã dấy lên 1 cuộc tranh cãi gay gắt giữa hai nhóm nghiên cứu trên. Đến tháng 3-1987, cuộc tranh cãi này mới chính thức chấm dứt khi Tổng thống Mỹ Ronald Reagan và Tổng thống Pháp quyết định đứng ra dàn xếp, tuyên bố Luc Montagnier và Robert Gallo là đồng tác giả phát hiện ra HIV.

Các giả thuyết về nguồn gốc phát sinh HIV

Tuy nhiên để xác định rõ căn nguyên, nguồn gốc của căn bệnh thế kỷ này thì không hề đơn giản chút nào. Cũng có rất nhiều các giả thuyết khác nhau cho rằng SIV là một họ virus lớn tồn tại ở nhiều loại khỉ châu Phi. Tuy nhiên, tinh tinh là loài khỉ không đuôi duy nhất bị nhiễm một cách tự nhiên (chứ không phải con người). Ở một thời điểm nào đó trong quá khứ gần, SIV đã lây nhiễm sang người và đột biến trở thành HIV.

Kể từ đó, nó trở thành đại dịch, cướp đi sinh mạng của hơn 20 triệu người và lây nhiễm cho 15 triệu người khác trên thế giới. Theo các nhà khoa học, địa điểm lây truyền sang người là vùng Guinea-Bissau ở Tây Phi. Nhiều nhà khoa học tin rằng sự lây truyền xảy ra nhiều hơn một lần bởi có nhiều dạng AIDS ở người.

Thời điểm lây truyền vẫn là một vấn đề. Hàng triệu người châu Phi bị buộc phải rời bỏ nhà cửa với thân phận nô lệ vào thế kỷ 19 và không ai trong số họ bị nhiễm virus. Điều đó cho thấy nguồn gốc của AIDS phải có từ sau năm 1860.

Giả thuyết thứ hai lại cho rằng, HIV là một loại virus từ trước vẫn sống chung hoà bình với con người, nhưng do tác động và sự thay đổi đột ngột của tự nhiên cùng với những sự ô nhiễm môi trường sống do con người gây ra mà chúng trở nên ác tính và "quay sang" tấn công con người. Do đã có thời gian "chung sống" với con người nên loại virus này rất dễ dàng tấn công và "khu lập" được hệ thống miễn dịch của con người một cách dễ dàng…

Giả thuyết khác có phần tiêu cực hơn lại cho rằng HIV là do chính con người tạo nên trong chiến tranh Thế giới lần thứ II. Theo những lập luận của một số học giả và các nhà sử học thì phát xít Đức đã ra lệnh cho một tổ nghiên cứu đặc biệt bao gồm các bác sỹ, những nhà sinh - hóa học… nghiên cứu tìm ra một loại virus có khả năng "tiêu diệt" con người trên diện rộng, với tốc độ lây lan nhanh chóng và đặc biệt là không có loại kháng thể nào có thể ngăn chặn được sức tàn phá của nó. Và bước đầu những thành công của các nhà nghiên cứu đã được bọn phát xít áp dụng nhằm chống lại quân Đồng minh, chúng đã đưa ra nhiều loại virus có khả năng gây bệnh, không loại trừ khả năng trong đó có loại virus làm suy giảm hệ thống miễn dịch của con người.

Cũng có nhiều người theo đạo Thiên chúa còn khẳng định rằng chính Chúa trời đã tạo ra loại virus này để trừng phạt loài người, và đưa con người đến bờ vực của sự diệt vong nhưng đó thì cũng chỉ là những học thuyết của các nhà duy tâm và không hề có bất kỳ sở cứ khoa học nào.

Nhưng có lẽ giả thuyết có khá nhiều người ủng hộ và dễ chấp nhận hơn cả là HIV có thể tồn tại trong một bộ lạc sống cách biệt với nền văn minh của nhân loại. Nhưng do thế giới ngày càng có nhiều sự thay đổi về cục diện kinh tế, xã hội như du lịch phát triển, quan điểm sống thay đổi, giải phóng tình dục... nên đã là nguyên nhân làm lan tràn HIV trên toàn thế giới. Dù rằng hiện nay có bằng chứng rõ ràng chứng minh HIV gây ra AIDS, nhưng cho đến nay vẫn còn có người cứ nhất định không thừa nhận mối liên hệ này.

Cho nên, để tìm ra nguồn gốc của AIDS, cần phải truy tìm nguồn gốc cấu tạo của HIV, và bằng cách nào, khi nào và từ đâu mà HIV lần đầu tiên bắt đầu gây bệnh cho người chứ không chỉ dựa vào những giả thuyết còn nhiều nghi vấn. Việc nghiên cứu cấu tạo vi rus HIV đã giúp các nhà khoa học đạt được những thành công như thế nào trong việc chữa trị căn bệnh thế kỉ? Báo Pháp luật & Xã hội sẽ chuyển thông tin tới bạn đọc vào các số báo sau.

Kỳ 2: Nghiên cứu virus HIV để tìm ra thuốc đặc trị

(PL&XH) - Để tìm ra phương thuốc điều trị HIV thì phải hiểu rõ loại virus nguy hiểm này, trên cơ sở đó mới có được phác đồ điều trị hữu hiệu nhất.

Các nhà khoa học trên thế giới đã tích cực nghiên cứu những điểm cơ bản về HIV để kiếm tìm ra loại thuốc đặc trị nó…

Đặc tính

HIV thuộc nhóm Lentivirus, và giống như mọi virus thuộc tuýp này, nó sẽ tấn công hệ miễn dịch của con người. Lentivirus lại thuộc vào 1 nhóm virus lớn hơn gọi là Retrovirus. Lentivirus có nghĩa là virus chậm cần có nhiều thời gian để gây ra tác dụng có hại cho cơ thể. Nhóm virus này gặp ở nhiều loài động vật khác nhau như: mèo, cừu, ngựa và trâu bò... Tuy nhiên, tuýp Lentivirus mà các nhà khoa học quan tâm khi nghiên cứu nguồn gốc của HIV lại là SIV (Simian Immunodeficiency Virus), một loại virus gây bệnh ở loài khỉ.

HIV là 1 virus có tính thay đổi cao, đột biến dễ dàng. Điều này có nghĩa là ngay trong cơ thể của  người bị nhiễm cũng có nhiều chủng HIV khác nhau. Dựa trên những điểm tương tự về di truyền, ta có thể phân loại vô số các chủng virus khác nhau đó thành từng tuýp, nhóm và phân tuýp. Có 2 tuýp HIV là: HIV-1 và HIV-2.

Cả 2 tuýp này đều có thể lây truyền qua quan hệ tình dục, qua đường máu, và từ mẹ sang con. Cả 2 tuýp này dường như đều gây bệnh cảnh lâm sàng AIDS khá giống nhau nên rất khó để mà phân biệt. Tuy nhiên, HIV-2 lại không dễ lây như HIV-1, và thời gian kể từ lúc mới bắt đầu nhiễm cho đến khi xuất hiện bệnh thường dài hơn.

Nhưng trên toàn thế giới hiện nay, HIV-1 chính là nhóm gây đại dịch  AIDS, và khi nói nhiễm HIV mà không kèm theo tuýp, tức là đang nói tới HIV-1. Trên thực tế HIV-2 rất ít gặp, chủ yếu loại này thường khu trú tại Tây Phi, ít  khi thấy ở nơi khác. HIV-2 có 8 nhóm phụ, từ A đến H. Các chủng HIV-1 có thể được phân thành 3 nhóm như sau:  nhóm "M" (major, nghĩa là nhóm chính), nhóm "O" (outlier, nhóm ngoài rìa) và nhóm "N" (new, nhóm mới hoặc non- M  non- O). Chính 3 nhóm này đại diện cho 3 đợt du nhập riêng rẽ của virus SIV  gây suy giảm hệ miễn dịch của khỉ sang người.

Nhóm O dường như chỉ khu trú tại vùng Tây Phi, còn nhóm N cực  kỳ   hiếm gặp, chỉ mới được phát hiện vào năm 1998 tại Cameroon. Có trên 90%   các trường hợp nhiễm HIV-1 đều thuộc nhóm M. Trong HIV-1 nhóm M, có ít nhất là 9 phân tuýp (subtype hoặc clade). Những phân tuýp đó được gọi lần lượt là A, B, C, D, F, G, H, J và K. Đôi khi 2 virus thuộc 2 phân tuýp khác nhau cùng hiện diện trong tế bào của người nhiễm và chúng hoà trộn các chất liệu di truyền để tạo thành 1 virus lai (được gọi là hybrid) mới. Đây là 1tiến trình tương tự  như sinh sản hữu tính, cho nên đôi khi còn được gọi là sự giao phối của virus (viral sex). Nhiều loại virus thuộc chủng mới này không sống sót lâu được, nhưng những chủng nào gây nhiễm được cho người khác sẽ được gọi là CRFs (các thể tái tổ hợp lưu thông).

Lấy ví dụ CRF A/B là sự kết hợp của các phân  tuýp A và B. Hiện nay các nhà khoa học đã phát hiện có đến 30 CRF. Việc sắp xếp các chủng HIV thành các  phân tuýp và CRF là 1 chủ đề khá rối rắm và các  định nghĩa phân loại thường phải thay đổi khi có những phát hiện mới. Một số nhà khoa học cứ gọi A1, A2, A3, F1 và F2 là phân tuýp mặc dù nhiều người   coi A và F mới đúng là phân tuýp.

CRF A/E được coi là do sự lai tạo giữa phân tuýp A và 1 phân tuýp "gốc"  là E. Tuy nhiên, chưa ai thấy được phân tuýp E ở dạng riêng rẽ. Lại còn rối rắm hơn, khi nhiều người vẫn cứ coi CRF A/E là phân tuýp E (trên thực tế phải gọi  là CRF01_AE mới đúng). Một virus được phân lập tại Cyprus lúc đầu được xếp   vào nhóm phụ mới I , sau đó được phân loại lại là một thể kết hợp của A/G/I.  Hiện nay, virus này được coi là đại diện cho 1 CRF phức tạp gồm những phân nhóm A, G, H, K và những vùng không phân loại đựơc. Thành ra tên gọi I  không còn được sử dụng nữa.

Phân bố các phân tuýp và CRF của HIV-1

Các phân  tuýp HIV -1 và CRF đựơc phân bố không đều trên thế giới,  trong đó các phân typ B và C phân bố rộng rãi nhất. Phân tuýp C chủ yếu gặp tại miền đông và  nam châu Phi, Ấn độ và Nepal. Phân chủng này gây ra các vụ dịch HIV nặng  nề nhất và khoảng một  nửa các trừơng hợp nhiễm hiện nay là do phân chủng này.

Về mặt lịch sử, phân tuýp B là phân tuýp CRF thừơng gặp nhất tại châu Âu, châu Mỹ, Nhật , và châu Úc. Tình hình này có thay đổi chút ít, bởi vì hiện nay ít nhất 25 % những trường hợp mới nhiễm tại châu Âu là do các phân tuýp mới khác. Phân bố các phân tuýp HIV-1 M theo vùng địa lý. Phân tuýp A và CRF A/G nổi trội tại Tây Phi và Trung Phi, phân tuýp A cũng đóng vai trò chủ đạo gây vụ dịch tại Nga.

Phân tuýp D nói chung chỉ khu trú tại Đông phi và Trung Phi; A/E phổ biến tại Đông nam Á , nhưng vốn có nguồn gốc từ Trung Phi; F đựơc tìm thấy tại Trung Phi, Nam Mỹ  và  Đông Âu ; G và A/G đựơc ghi nhận tại Tây Phi và đông Phi và tại Trung Âu .Phân nhóm H chỉ tìm thấy tại Trung Phi ; J chỉ có tại Trung Mỹ; và K chỉ có tại Cộng hoà Dân chủ Congo và Cameroon.

Hiện nay, HIV được chấp nhận là hậu duệ  của SIV bởi vì một số chủng  SIV có cấu trúc di truyền rất giống với HIV-1 và HIV-2. HIV-2 tương ứng với  SIVsm, là 1 chủng của SIV được tìm thấy ở loài khỉ mặt xanh (sooty mangabey), đây là một loài khỉ  bản địa vùng tây Phi. Còn typ HIV-1, có "độc lực" mạnh hơn, gây đại dịch nhiều hơn. Mãi cho đến năm 1999, mới xác định  được đối tác gần gũi nhất của HIV-1 là SIVcpz, là SIV tìm thấy ở loài tinh tinh (chimpanzee). Tuy nhiên, chủng virus này vẫn còn có một số khác biệt với HIV ở nhiều điểm quan trọng.

Như vậy, có thể thấy rằng việc phân tích cấu trúc cũng như sự phức tạp trong phân loại virus HIV đã chứng tỏ một điều rằng sẽ không dễ dàng để tìm được loại thuốc đặc trị cho căn bệnh thế kỷ. Có thể khẳng định rằng đây là một trong những loại virus "khó trị" nhất trong lịch sử nhân loại, nhưng điều đó không có nghĩa là không có hy vọng cho những người chót mang trong mình loại virus quái ác này…

Kỳ 3: Những thành công đầu tiên

(PL&XH) - Hầu hết mọi loại bệnh, con người đều có thể tìm ra được thuốc chữa. Riêng trường hợp bị lây nhiễm HIV thì vô cùng khó khăn, người ta đã tốn nhiều công sức và tiền của để tìm ra phương thuốc đặc trị căn bệnh này.

Đã có tín hiệu lạc quan khi một nhóm các nhà khoa học quốc tế phát hiện ra một mấu chốt quan trọng để chế ra loại thuốc có khả năng diệt được virus HIV…

 

Phương pháp chữa trị và tương lai HIV

Dựa trên sự khám phá và phân tích cấu tạo vi rút HIV, các nhà nghiên cứu đã có cơ hội tìm ra được phương pháp để điều trị bệnh nhân bị nhiễm HIV. Một số phương pháp điều trị từ trước đến nay đã được phổ biến trên toàn cầu như sử dụng các loại thuốc do các nhà khoa học đã nghiên cứu ra và chế biến thành loại thuốc chữa trị, phục hồi và duy trì các chức năng miễn dịch của cơ thể, đồng thời cải thiện và nâng cao chất lượng cuộc sống. Tuy nhiên những phương pháp trên mới chỉ dừng ở mức độ ngăn cản vi rút sản sinh và kéo dài được tuổi thọ của bệnh nhân.

Loại thuốc đầu tiên được chế vào năm 1987 là AZT (Zidovudine), tạm dịch là một loại thuốc ngăn chặn tác dụng của men transcriptase sao chép đảo nghịch. Theo các tài liệu nghiên cứu cho biết, HIV là loại vi rút tự tái tạo bằng cách sao chép bản thân cơ thể của nó lên nhiều lần. Chính vì vậy mà các loại thuốc được chế ra với mục đích ngăn chặn sự sao chép này đồng thời ngăn cản sự tổng hợp DNA để làm đứt đoạn chuỗi DNA mà vi rút HIV sử dụng để sao chép bản thân. Năm 1994, các nhà nghiên cứu cho hay, loại thuốc AZT này có thể làm giảm 2/3 trẻ em sơ sinh lây nhiễm HIV từ mẹ.

Có hai loại thuốc dùng để ngăn cản men sao chép đảo nghịch (Reverse Transcriptase): Loại thứ nhất là thuốc ngăn cản men sao chép đảo nghịch Nucleoside (Nucleoside/Nucleotide Reverse Transcriptase Inhibitors - NRTIs) dùng để ngăn chặn sự tổng hợp DNA và làm đứt đoạn chuỗi DNA mà vi rút sử dụng để sao chép bản thân. Loại thứ hai là thuốc ngăn chặn men sao chép bản thân phi Nucleoside (Non - nucleoside Reverse Transcriptase Inhibitors - NNRTIs) dùng để giữ chặt men sao chép đảo nghịch làm cho vi rút không thể thực hiện chức năng sao chép lại bản thân. Ngoài ra, còn một loại thuốc khác dùng để chữa trị HIV gọi là ngăn cản men Protease (Protease Inhibitors) được sản xuất vào năm 1995, có tác dụng ngăn chặn vi khuẩn mà HIV cần để tái tạo ra các thành phần cấu tạo của vi rút (tạm gọi là sao chép bản thân).

Trong tương lai, Tiến sĩ Anderson (đứng đầu một nhóm nghiên cứu độc lập) tin tưởng rằng sẽ sản xuất được một loại vắc xin có thể phòng bệnh được nhưng ông không chắc nó sẽ có hiệu quả 100%. Thay vào đó, ông hy vọng rằng sẽ có biện pháp điều trị tốt hơn, ông nói: "Điều mà tôi mong muốn là khả năng chữa trị triệt để và ý tôi muốn nói là việc điều trị sẽ rất tốt khi mà chúng ta có thể ngăn chặn được sự sinh sôi nảy nở bằng chất kiềm chế vi rút (antiretrovirals) và tìm ra những loại vi rút ngấm ngầm ẩn mình trong các tế bào để hủy diệt hoặc kiểm soát chúng".

Nỗ lực loại trừ HIV

Thời gian gần đây một nhóm các nhà nghiên cứu đến từ Australia đã công bố một công trình nghiên cứu mới, đó là tăng cường khả năng phản hồi của hệ miễn dịch trên cơ thể người. Người đứng đầu nhóm nghiên cứu này là Giáo sư Marc Pellegrini thuộc Viện Nghiên cứu Walter & Eliza cho biết, họ đã thành công trong việc chữa trị một số hội chứng lây nhiễm giống HIV trên cơ thể chuột với việc tăng chức năng của các tế bào sống vào hệ miễn dịch.

Mặc dù tất cả mới chỉ là công bố sơ khai như thế, còn bản nghiên cứu không công bố chi tiết. Nhưng Giáo sư Marc Pellegrini cho hay: "Các loại virus điển hình như HIV và viêm gan B & C lấn áp hệ miễn dịch, dẫn đến hình thành bệnh lây nhiễm mãn tính tồn tại lâu và không thể chữa khỏi. Mặc dù đã có nhiều nỗ lực chữa trị, virus vẫn không bị tác động nhiều bởi khả năng phản hồi lâu dài của hệ miễn dịch vì cơ thể đã bị virus tàn phá và hệ miễn dịch nói chung, tế bào T nói riêng đã không còn khả năng chiến đấu chống lại virus. Một số người đã nghĩ ra cụm từ "miễn dịch mỏi" để giải thích hiện tượng này. Vì vậy, qua nghiên cứu, chúng tôi đã phát hiện ra một số cơ chế gây nên tình trạng miễn dịch mỏi và tiến hành kiểm soát các gene gốc để xác định liệu chúng tôi có thể tăng cường khả năng phản hồi của hệ miễn dịch để chống chọi với căn bệnh hay không."

Công tác nghiên cứu tập trung vào Interleukin-7 (IL-7), một chất tự nhiên kích thích phản ứng miễn dịch. Pellegrini cho biết thêm: "Chúng tôi nhận thấy rằng IL-7 đã tăng cường khả năng phản hồi của hệ miễn dịch một cách rất hoàn hảo. Động vật mắc bệnh có thể tự tiêu diệt virus mà không bị tổn thương quá nhiều về mô".

Các cuộc điều tra tiếp theo còn cho thấy, ở mức độ phân tử, IL-7 đã "tắt" một gene được gọi là SOCS-3 và với việc vô hiệu hóa SOCS-3, con chuột có thể duy trì kích thích phản hồi miễn dịch để chống chọi với virus. Nhà nghiên cứu Preston nói thêm: "Chìa khóa thành công đối với chúng tôi là việc xác định được rằng gene SOCS-3 chỉ có thể bị "tắt" đi khi nó nằm bên trong tế bào T.

Nó cho phép các phản ứng miễn dịch gia tăng số lượng tế bào T kháng virus và kích thích miễn dịch vừa đủ để tiêu diệt virus mà không cần kích hoạt cả một bộ máy miễn dịch đồ sộ". Theo như các nhà nghiên cứu cho biết nếu phương pháp này thành công, nó sẽ là tiền đề để người ta chế tạo ra thuốc chữa các căn bệnh hiểm nghèo như bệnh lao, viêm gan và quan trọng nhất, căn bệnh thế kỷ HIV. Đây có thể được coi như là một sự đột phá vĩ đại của y học trong nhiều năm trở lại đây…

Kỳ 4: Người nhiễm HIV đầu tiên được chữa khỏi

(PL&XH) - Các bác sĩ Đức vừa đưa ra một tuyên bố rất gây sốc là họ đã "xoá sạch" virus HIV trên cơ thể một bệnh nhân ung thư nhiễm AIDS, nhờ kỹ thuật ghép tuỷ xương.

Trong nhiều năm qua, các nhà khoa học hàng đầu trên thế giới đã ngày đêm nghiên cứu nhằm tìm ra một loại "kháng sinh" hữu hiệu nhất để "chống chọi" lại với HIV, nhiều lúc tưởng như những nỗ lực của họ đi vào ngõ cụt thì những tia hy vọng cuối đường hầm lại được thắp lên…

 

Nhờ kĩ thuật ghép tuỷ xương

Các bác sĩ Đức vừa đưa ra một tuyên bố rất gây sốc là họ đã "xoá sạch" virus HIV trên cơ thể một bệnh nhân ung thư nhiễm AIDS, nhờ kỹ thuật ghép tuỷ xương. Tuyên bố này là cực kỳ ấn tượng trong lĩnh vực mà khái niệm "chữa khỏi" vẫn là xa xỉ lâu nay. Theo tờ "torontosun" cho hay, bệnh nhân này vừa nhiễm HIV, vừa mắc bệnh ung thư máu, đã được ghép tuỷ xương vào năm 2007 từ một người hiến (người này mang một đột biến gene có khả năng tạo cho bệnh nhân sự miễn nhiễm tự nhiên với virus).

Gần 4 năm sau ca ghép tuỷ, bệnh nhân đã hoàn toàn hết sạch virus HIV trong cơ thể, và không còn khả năng nó ẩn nấp ở đâu đó - Thomas Schneider từ Bệnh viện Charité ở Berlin và cộng sự cho biết. "Kết quả của chúng tôi nhấn mạnh rằng bệnh nhân này đã được chữa khỏi HIV" - nhóm nghiên cứu viết trên tạp chí Blood.

Tuy nhiên, công trình này vấp phải sự phản đối mạnh mẽ của các nhà nghiên cứu về AIDS. Theo họ, nó "không thực tế và có thể giết người", bởi kỹ thuật này sẽ phải phá huỷ tuỷ xương của chính người bệnh (bản thân nó là một quy trình đau đớn), sau đó cấy tuỷ của một người khác với máu và hệ miễn dịch gần giống như thế, đồng thời cần nhiều tháng để phục hồi. "Nó có thể chữa khỏi, nhưng bạn sẽ không thể biết chắc chắn hoàn toàn cho đến khi người bệnh chết và trải qua kỹ thuật phân tích PCR các mô tử thi", tiến sĩ Robert Gallo từ Viện Virus học người tại Đại học Maryland, cho biết. Một số chuyên gia khác thì cho rằng mặc dù kết quả này là hứa hẹn, song nó không đại diện cho một liệu pháp chữa trị tiềm năng cho mọi bệnh nhân, là do giá quá đắt, và phải tìm được người hiến phù hợp.

 

Tính hiệu quả trong việc điều trị AIDS

Khi có được thông tin này một niềm hy vọng mới về việc điều trị căn bệnh thế kỷ AIDS lại được dấy lên. Nhưng theo lời giải thích của Bệnh viện Charité thì đây là "một trường hợp đáng chú ý" nhưng "hy hữu", không nên hy vọng quá nhiều vì ca bệnh trên có thể chỉ là một sự may mắn. "Đây là trường hợp đáng chú ý trong công tác nghiên cứu"- nhận định của Giáo sư Rodolf Tauber trong một bản tin. "Tuy nhiên, những hứa hẹn sẽ chữa lành cho hàng triệu bệnh nhân nhiễm HIV là không đáng tin" - Giáo sư cho biết thêm. Được biết mỗi năm có 2 triệu người mới được chẩn đoán nhiễm HIV, và tổng cộng virus HIV đã lây lan cho 33 triệu người trên toàn thế giới.

Bệnh nhân được xét nghiệm dương tính HIV này là một người Mỹ, 42 tuổi, sống tại Berlin. Anh phải trải qua cuộc phẫu thuật ghép tuỷ để chữa bệnh bạch cầu đã hành hạ anh suốt 3 năm qua. Bác sĩ Gero Huetter, một thành viên trong nhóm điều trị, nói rằng khi ông chuẩn bị chữa bệnh máu trắng cho bệnh nhân này bằng liệu pháp ghép tuỷ xương, ông chợt nhớ ra rằng có những người mang một đột biến gen mà dường như nó giúp họ kháng lại việc nhiễm HIV.

Đột biến này đã được các nhà khoa học biết đến nhưng đến nay vẫn chưa giải thích được: Trường hợp đặc biệt này, đột biến cơ quan thụ cảm CCR-5 của virus, chỉ hiện diện ở 1-3% dân số châu Âu và gần như hình thành ở những người này khả năng miễn dịch với virus HIV. "Tôi đọc được điều này một cách tình cờ năm 1996. Tôi vẫn nhớ và nghĩ rằng nó có thể có tác dụng" - bác sĩ Gero Huetter cho biết. Và trong số 80 người tình nguyện, ông đã tìm được 1 người có đột biến phù hợp đó.

Nhóm các nhà huyết học tại Berlin do Giáo sư Eckhard Thiel chịu trách nhiệm chữa trị cho bệnh nhân đã chọn người hiến tuỷ đặc biệt này "với hy vọng sau khi ghép tuỷ, virus HIV cũng sẽ biến mất". Trước ca phẫu thuật, bệnh nhân được trị liệu bằng thuốc và phóng xạ mạnh để giết chết các tế bào tuỷ xương đã nhiễm bệnh, và làm bất hoạt hệ miễn dịch, đồng thời ngừng dùng thuốc chữa AIDS để ngăn các chất diệt khuẩn có thể gây ra phản ứng thải hồi.

Theo lời tóm tắt của nhóm giáo sư Thiel vào ngày 12-11-2010: "Thông thường, ngưng điều trị chống virus ARN trong vài tuần sẽ làm phát triển bệnh AIDS. Nhưng cho đến nay, hơn 20 tháng sau thành công của ca phẫu thuật ghép tuỷ, vẫn không phát hiện được virus HIV nào trên cơ thể người bệnh".

Trường hợp này được nêu trên nhật báo Mỹ Wall Street Journal và được giật tít lớn vào ngày 12-11-2010 trên tờ Bild, một tờ báo nổi tiếng của Đức, nhưng vẫn chưa phải là mục tiêu của các công bố khoa học. "Không nên đặt quá nhiều hy vọng vào liệu pháp này" - bác sĩ Gero Huetter xác nhận trong cuộc họp báo ngày 12-11-2010 - "Phương thức này không phù hợp với việc điều trị cho bệnh nhân nhiễm HIV hiện nay cũng như trong tương lai. Tuy nhiên, trường hợp bệnh nhân đặc biệt này lại chỉ ra vai trò mấu chốt của gen CCR-5 trong việc truyền bệnh HIV và trong việc phát triển bệnh" - ông nhấn mạnh như vậy đồng thời chỉ rõ rằng việc điều trị HIV trong trường hợp bệnh nhân này chỉ là "một tác dụng phụ" của giải pháp trị liệu được định ra để chữa cho người bị bạch cầu.

Thật vậy, nếu chỉ nhìn về mặt thời gian thì 20 tháng vẫn chưa nói lên được điều gì cả. Nếu tính từ thời điểm một tế bào bị nhiễm trùng cho tới khi phát hiện ra nó đã phải mất vài năm. Do đó, thời gian 2 năm là quá ngắn để có thể đưa ra kết luận cuối cùng. Song, nếu được thừa nhận, khám phá này cho thấy giải pháp trị liệu bằng gen một ngày nào đó sẽ có thể giúp điều trị được cho những người dương tính HIV…

Kỳ cuối: Sẽ không còn là căn bệnh thế kỷ?

(PL&XH) - Mặc dù bước đột phá trên cần nhiều thời gian để có thể đưa ra các luận chứng khoa học xác thực, tuy nhiên đây có thể được coi là chương mới trong cuộc chiến chống HIV và AIDS trên thế giới…

Các nhà khoa học Mỹ, Australia, Đức… đều có những công bố khả quan về việc họ có nhiều phát hiện mang tính đột phá trong nghiên cứu các loại thuốc điều trị HIV/AIDS, theo đó các bệnh nhân đang đứng trước cơ hội lớn có thể thoát khỏi "căn bệnh thế kỷ" này…

 

Giải mã được cơ chế kháng thuốc của virus HIV

Các nhà khoa học thuộc Đại học Rutgers (Mỹ) vừa phát hiện một loại virus HIV-1 bị đột biến có thể phát huy tác dụng chống lại AZT (một loại thuốc phòng chống bệnh AIDS được sử dụng phổ biến hiện nay). Trên cơ sở phát hiện này các nhà khoa học đã giải mã được cơ chế kháng thuốc ở cấp độ nguyên tử của những virus bị đột biến. Thuốc AZT là phương pháp duy nhất trong điều trị bệnh AIDS hiện nay, đặc biệt AZT phát huy vai trò quan trọng trong việc ngăn chặn virus HIV lây truyền từ mẹ sang con.

Vào khoảng 10 năm trước, trải qua nhiều thí nghiệm, các nhà khoa học đã suy đoán được rằng sẽ có sự xuất hiện của một loại virus HIV-1 kháng thuốc AZT. Các nhà khoa học đã tiến hành phân tích cơ chế chi tiết ở cấp độ nguyên tử đối với vi rút HIV-1 bị đột biến kháng thuốc AZT trên cơ sở áp dụng kỹ thuật nhiễu xạ X-quang. Kết quả cho thấy virus HIV-1 không những ngăn chặn tác dụng của thuốc AZT, mà còn triệt tiêu thuốc AZT. Virus HIV-1 đã sử dụng phân tử ATP trong tế bào để triệt tiêu thuốc AZT sau đó thực hiện sự phiên mã ngược.

Trên thực tế điều trị các tình nguyện viên có mang HIV, đã có nhiều trường hợp không chỉ kháng thuốc mà còn bị "sốc" khi sử dụng thuốc điều trị, nhưng những trường hợp như vậy rất hiếm gặp. Có thể nói rằng HIV là một loại virus "thông minh", bởi nó luôn biết cách biến đổi để chống lại các loại biệt dược "mạnh" được các nhà khoa học nghiên cứu. Tuy nhiên, việc phát hiện được cơ chế kháng thuốc của HIV đã có một ý nghĩa rất quan trọng giúp các nhà khoa học lý giải tại sao công tác điều trị chống bệnh AIDS lại không phát huy tác dụng, và qua đó từng bước nghiên cứu phương pháp điều trị bệnh AIDS hiệu quả hơn. Nhưng vấn đề đặt ra là không chỉ có HIV kháng thuốc mà những loại thuốc đang được sử dụng để điều trị căn bệnh này có thực sự phù hợp và có chăng những phản ứng phụ "tiêu cực" đối với người sử dụng…

Hy vọng của bệnh nhân nhiễm HIV/AIDS trở thành hiện thực?

Nhóm các nhà khoa học thuộc Viện nghiên cứu virus Burnet, tiểu bang Melbourne, Australia đã khám phá ra "bức tranh" rõ nét nhất về cách thức virus HIV duy trì sự sống trong cơ thể con người và đây được coi là chìa khoá mới trong chữa trị thành công căn bệnh thế kỷ nguy hiểm này. Thông tin trên, được đăng tải trên nhật báo Người  Australia, cho thấy rõ cách thức virus HIV ẩn náu bất động trong cơ thể người dưới dạng các tế bào tiếp nhận các phương pháp điều trị. Tuy nhiên các virus này có thể "sống lại" bất kỳ lúc nào khi quá trình điều trị tạm ngừng và gây ra nhiều khó khăn đối với bất kỳ biện pháp điều trị HIV sau đó.

Giáo sư Sharon Lewin, Khoa nghiên cứu các bệnh truyền nhiễm thuộc Viện Nghiên cứu Burnet, cho biết: "Một khi HIV đi vào các tế bào, chúng có thể rơi vào trạng thái ngủ đông. Tuy nhiên, các loại tế bào này đã âm thầm bị tấn công, dù không xuất hiện triệu chứng lâm sàng rõ ràng khi người nhiễm HIV sử dụng các loại thuốc điều trị và tăng cường hệ miễn dịch."

"Một khi người bệnh dừng thuốc điều trị HIV, các loại virus này có thể "tỉnh dậy" và tiếp tục phá hủy cơ thể người bệnh," giáo sư Lewin nhấn mạnh. Chính vì vậy, theo giáo sư, việc nắm bắt rõ cơ chế trên có thể cho phép phát triển những cách thức chữa trị mới, khoanh vùng các khu vực đã bị nhiễm HIV. Tuy nhiên, vẫn còn một ẩn số liên quan tới luận giải khoa học trên khi các nhà nghiên cứu trên thế giới đã đặt ra câu hỏi làm thế nào để virus HIV có thể đi vào các tế bào dạng CD4 trong cơ thể bệnh nhân và chúng có thể tồn tại trong đó nhiều năm bất chấp quá trình điều trị HIV lâu dài tới như vậy.

Câu trả lời đó là quá trình hình thành tổ hợp protein, khoa học gọi là chemokines, có thể định hướng các tế bào đang "nghỉ ngơi" thông qua đường máu và đi vào các tấm chứa thành phần bạch huyết và quá trình này có thể "mở cửa" cho phép các virus HIV tấn công vào cơ thể, hình thành quá trình lây nhiễm âm ỉ, ngấm ngầm.

Theo đánh giá, việc phát hiện ra cơ chế sinh tồn của HIV sẽ giúp các nhà khoa học sớm tìm ra các biện pháp chữa trị hiệu quả đối với căn bệnh thế kỷ HIV/AIDS, đồng thời với phát hiện trên sẽ cho phép ngăn chặn kịp thời virus HIV từ khi chúng "manh nha" ý định lọt vào cơ thể và lan truyền âm ỉ qua các tế bào. Mặc dù bước đột phá trên cần nhiều thời gian để có thể đưa ra các luận chứng khoa học xác thực, tuy nhiên đây có thể được coi là chương mới trong cuộc chiến chống HIV và AIDS trên thế giới…

Theo như các nhà khoa học của Anh công bố, họ đã phát triển được một dạng tinh thể giúp họ nhìn được cấu trúc của một enzyme gọi là integrase (có trong những loại virus như HIV) và là mục tiêu điều trị của một số loại thuốc chữa HIV/AIDS mới nhất hiện nay. Với việc biết được cấu trúc của integrase, các nhà nghiên cứu có thể hiểu được toàn bộ cơ chế hoạt động của những loại thuốc ức chế integrase, cách thức cải tiến những loại thuốc này cũng như cách ngăn chặn sự kháng thuốc ngày càng tăng của virus HIV.

Ông Peter Cherepanov - tác giả nghiên cứu công trình này (thuộc Trường Đại học Imperial của Anh) cho biết, một số loại thuốc mới điều trị HIV như Isentress của hãng Merck&Co và Elvitegravir của hãng Gilead Science, có cơ chế hoạt động là ngăn cản integrase, song các nhà khoa học hiện vẫn chưa biết được chính xác tác dụng cũng như cách cải tiến những loại thuốc này. Loại tinh thể nói trên được các nhà nghiên cứu phát triển nhờ phiên bản của integrase mượn từ các loại virus khác có cấu trúc tương tự HIV. Các nhà nghiên cứu đã tiến hành hơn 40.000 cuộc thử nghiệm để có thể cho ra một tinh thể có chất lượng cao đủ cho phép họ nhìn được cấu trúc 3 chiều của integrase.

Họ cũng đã thử nghiệm các loại thuốc của Merck và Gilead trên các tinh thể này và lần đầu tiên được chứng kiến hai loại thuốc này cô lại và phong tỏa integrase ra sao. Theo số liệu của Liên hợp quốc, kể từ khi dịch HIV/AIDS bùng phát đến nay đã có gần 60 triệu người trên thế giới bị nhiễm HIV và 25 triệu người đã tử vong. Hiện nay, vẫn chưa có vaccine phòng ngừa cũng như cách chữa trị dứt điểm căn bệnh này, nhưng liên tục có những phát hiện mới gần đây của các nhà khoa học đã mang đến nhiều hơn những niềm hy vọng cho các bệnh nhân HIV vào một ngày không xa, AIDS sẽ không còn là căn bệnh "thế kỷ".

Theo Phapluatxahoi